Kiến thức tài chính


 

 

Giới thiệu các hệ số tài chính 

GIỚI THIỆU CÁC HỆ SỐ TÀI CHÍNH

1. Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao động) trong một quy tŕnh sản xuất của doanh nghiệp.

Hệ số tổng lợi nhuận = (Doanh số-Trị giá hàng đă bán tính theo giá mua)/Doanh số bán

Trong thực tế khi muốn xem các chi phí này có cao quá hay không là đem so sánh hệ số tổng số lợi nhuận của một công ty với hệ số của các công ty cùng ngành, nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao hơn, th́ công ty cần có giải pháp tốt hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào.

2. Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết việc sử dụng hợp lư các yếu tố trong quá tŕnh sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Mức lăi hoạt động = Thu nhập trước thuế và lăi ( EBIT)/Doanh thu

Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đ̣n bẩy hoạt động mà một công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của ḿnh. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lư chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động.

3. Hệ số lợi nhuận ṛng phản ánh khoản thu nhập ṛng (thu nhập sau thuế) của một công ty so với doanh thu của nó.

Hệ số lợi nhuận ṛng = Lợi nhuận ṛng/Doanh thu.

Trên thực tế mức lợi nhuận ṛng giữa các ngành là khác nhau, c̣n trong bản thân một ngành th́ công ty nào quản lư và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, nhân lực..) tốt hơn th́ sẽ có hệ số lợi nhuận ṛng cao hơn.

4. Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ṛng trên vốn cổ phần của cổ đông.

ROE = Lợi nhuận ṛng/Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ṛng hữu h́nh.

Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác nhau trên thị trường. Thông thường, hệ số thu nhập trên vốn cổ phần càng cao th́ các cổ phiếu càng hấp dẫn, v́ hệ số này cho thấy cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty khi đem so sánh với hệ số thu nhập trên vốn cổ phần của các công ty khác.

5. Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản.

ROI = (Thu nhập ṛng/Doanh số bán) * (Doanh số bán/Tổng tài sản).

Mục đích của việc sử dụng hệ số ROI là để so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, th́ thu nhập và thu nhập trên đầu tư sẽ cao.

6. Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:

P/E = P/EPS

Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ṛng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất. P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung b́nh cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.

Nếu hệ số P/E cao th́ điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả măn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung b́nh và sẽ trả cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lư? Chúng ta chỉ cần nh́n vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ

 

Giới thiệu về trái phiếu

1. Khái niệm:

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.

2. Đặc điểm:

a. Một trái phiếu thông thường có ba đặc trưng chính:
+ Mệnh giá.
+ Lăi suất định kỳ (coupon)
+ Thời hạn.

b. Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ – con nợ giữa người phát hành và người đầu tư .
Phát hành trái phiếu là đi vay vốn. Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy, trái chủ là chủ nợ của người phát hành. Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền đ̣i các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành.
 

c. Lăi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố:
+ Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng. Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó.
+ Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Cấu trúc rủi ro của lăi suất sẽ quy định lăi suất của mỗi trái phiếu. Rủi ro càng lớn, lăi suất càng cao.
+ Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nh́n chung thời gian đáo hạn càng dài th́ lăi suất càng cao.

3. Phân loại trái phiếu.

3.1. Căn cứ vào việc có ghi danh hay không:
- Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả lăi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lăi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lăi. Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay.
- Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. H́nh thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lăi. Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là h́nh thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.

3.2. Căn cứ vào đối tượng phát hành trái phiếu:
- Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công tŕnh công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ.Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lăi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lăi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lăi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.

- Trái phiếu công tŕnh: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục đích cụ thể, thường là để xây dung những công tŕnh cơ sở hạ tầng hay công tŕnh phúc lợi công cộng. Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành.

- Trái phiếu công ty: là các trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn.
Trái phiếu công ty có đặc điểm chung sau: Trái chủ được trả lăi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty. Nhưng cũng có loại trái phiếu không được trả lăi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá. Khi công ty giải thể hoặc thanh lư, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu. Có những điều kiện cụ thể kèm theo, hoặc nhiều h́nh thức đảm bảo cho khoản vay.

Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau:
+ Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, v́ họ có quyền đ̣i nợ đối với một tài sản cụ thể.

+ Trái phiếu không bảo đảm: Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty. Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động. Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành. Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định.

Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó. Cụ thể là:

+ Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lăi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.

+ Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lăi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.

+ Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty. Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hoá chứng khoán có thể chuyển đổi được đề cập tới dưới đây.

 

Giới thiệu về cổ phiếu

. Khái niệm Cổ phiếu:

Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.

Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đăi.

Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của ḿnh.

Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đăi cũng là h́nh thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử..v.v.

II. Tác dụng của việc phát hành Cổ phiếu:

Đối với Công ty phát hành:

Việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng ...th́ hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lư công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.

Đối với nhà đầu tư cổ phiếu:
Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ phiếu được công ty phát hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lư công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty ḿnh đă chọn. Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường

 

 

Cổ phiếu phổ thông
 

 

Khi nói đến hàng hóa trên thị trường chứng khoán, người ta thường nghĩ ngay đến cổ Phiếu phổ thông (common stock). Thực tế tại nhiều nước trên thế giới, thị trường chứng khoán (the securities market) đă rất quen thuộc đối với mọi người dân. Ví dụ, ở Mỹ, trung b́nh cứ 4 người trên 25 tuổi th́ có một người sở hữu (own) cổ phiếu phổ thông, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các quỹ tương hỗ (mutual funds) .
 

Vậy bản chất của cổ phiếu phổ thông là ǵ?

Một cổ phiếu phổ thông đại diện cho quyền sở hữu một phần công ty (represent a proportional ownership interest in a corporatịon). Nếu một công ty có 100 cổ phiếu đang lưu hành (outstanding stock) và bạn sở hữu một trong số đó th́ có nghĩa là bạn sở hữu 1/100 công ty. Nếu công ty có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành và bạn nắm giữ 1.000 cổ phiếu th́ bạn sở hữu 1.000/1.000.000 hay 1/1.000 công ty. Thông thường, một công ty có thể thay đổi số lượng cổ phiếu đang lưu hành bằng cách bán các cổ phiếu bổ sung (selling additional shares) hay mua lại và huỷ bỏ một phần các cổ phiếu đă phát hành trước đó (buying back and cancelling some of the shares previously issued). Trong cả hai trường hợp trên, tỷ lệ sở hữu của các cổ đông cũ trong công ty đều thay đổi.
 

Ví dụ, một công ty phát hành 100 cổ phiếu ra công chúng (issue 100 shares to the public) và bạn mua một trong số này. Như vậy, bạn sở hữu 1/100 công ty. Sau đó, công ty phát hành thêm 100 cổ phiếu nữa th́ tỷ lệ sở hữu của bạn giảm xuống c̣n 1/200. Nói cách khác, tỷ lệ sở hữu của bạn trong công ty đă bị pha loăng (diluted) do việc phát hành cổ phiếu mới (the issuance of new shares).
 

Một ví dụ khác, giả sử một công ty có 1.000.000 cổ phiếu đang lưu hành và bạn mua một cổ phiếu của công ty. Sau đó, công ty mua lại và huỷ bỏ 250.000 cổ phiếu. Vậy, tỷ lệ sở hữu của bạn trong công ty từ 1/1.000.000 tăng lên 1/750.000.
 

Lưu ư là cần phân biệt rơ cổ phiếu đang lưu hành, cổ phiếu được phép phát hành (authorized stock) và cổ phiếu ngân quỹ (treasury stock).
Số lượng cổ phiếu được phép pháp hành, như tên của nó đă chỉ ra, là số lượng cổ phiếu tối đa mà công ty có thể phát hành. Quy định này đặt ra nhằm tránh t́nh trạng pha loăng quá mức (excessive dilution) tỷ lệ sở hữu trong công ty của các cổ đông hiện hữu (current shareholders) . Trong thực tiễn, có nhiều công ty không phát hành hết số lượng cổ phiếu mà nó được phép .
Cổ phiếu đang lưu hành là những cổ phiếu mà công ty đă bán cho các nhà đầu tư và chưa mua lại để huỷ bỏ hay cầm giữ. Số lượng cổ phiếu đang lưu hành được sử dụng để tính toán tỷ lệ sở hữu, tỷ lệ nợ trên vốn (debt-to-equity ratio). 
V́ nhiều lư do khác nhau, một công ty có thể mua lại cổ phiếu của chính ḿnh và nắm giữ như các nhà đầu tư b́nh thường khác. Các cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu ngân qũy và không được tính vào cổ phiếu đang lưu hành.
 

Tại sao có nhiều người đầu tư vào cổ phiếu? Khi mua cổ phiếu, các nhà đầu tư cùng hướng tới những mục tiêu giống như những người bỏ tiền ra để mua hoặc khởi sự doanh nghiệp:
 

1. Họ t́m kiếm cổ tức (dividends), có nghĩa là họ hy vọng doanh nghiệp sẽ tạo ra lợi nhuận (generate profits) để có thể phân phối (distribute) cho các chủ sở hữu;
 

2. Họ t́m kiếm lăi vốn (capital gains), có nghĩa là họ hy vọng doanh nghiệp sẽ tăng trưởng về giá trị (grow in value) và do đó, họ có thể bán phần sở hữu của ḿnh với mức giá cao hơn mức giá mà họ đă mua;
 

3. Họ t́m kiếm những lợi ích về thuế (tax benefits) mà luật thuế (tax code) dành cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.
 

Đối với các nhà đầu tư khác nhau th́ tầm quan trọng của mỗi yếu tố trên cũng khác nhau bởi v́ họ không có cùng một mục đích đầu tư (investment objective). Ví dụ, những người về hưu vốn phải sống dựa chủ yếu vào thu nhập từ các khoản đầu tư sẽ đề cao vai tṛ của cổ tức trong khi một số người khác lại chú ư hơn đến khả năng thu lăi vốn.

 

Công ty cổ phần đại chúng

 

Công ty cổ phần đă phát hành chứng khoán ra công chúng gọi là công ty đại chúng.

Nghia vụ của công ty đại chúng

Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành trở thành công ty đại chúng (có đăng kư). Công ty đại chúng có nghia vụ phải công khai thông tin về hoạt động của ḿnh theo quy định của pháp luật, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc và Sở Giao dịch chứng khoán nhằm đảm bảo cho nhà đầu tu đuợc thông tin đầy đủ về hoạt động thuờng xuyên cung nhu những sự kiện bất thuờng của công ty.

Uu điểm của h́nh thức tổ chức công ty đại chúng:

- Công ty đuợc xă hội biết đến do có tên tuổi xuất hiện công khai trên thị truờng chứng khoán, trên báo chí;

- Công ty phải báo cáo công khai hoạt động của ḿnh cho công chúng, nên chịu sự giám sát của công chúng, xă hội;

- Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc phải công khai các hoạt động quản lư và điều hành công ty. Ban giám đốc phải chăm lo việc phát triển công ty cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lư, co cấu hợp lư vốn, nếu không th́ các giám đốc sẽ bị sa thải; nhu vậy hoạt động công ty đại chúng đă ràng buộc các giám đốc phải tuân thủ pháp luật, điều hành công ty theo đúng luật công ty;

- Công ty có tiếng tăm ngoài xă hội, có uy tín th́ khi cần vốn xă hội, công ty dễ dàng có thể tiếp tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn của xă hội, với chi phí phát hành thấp hon lần phát hành truớc;

- Nhà nuớc bớt đuợc gánh nặng phải trợ giúp vốn ngân sách cho công ty, và nhu vậy Nhà nuớc có thể tập trung sức lực vào nhiệm vụ trọng đại của ḿnh là đầu tu co sở hạ tầng;

- Khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, công ty phải tuân thủ các quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nuớc, đặc biệt là các quy định về báo cáo, kiểm toán và công bố thông tin; và từ đó, các cổ đông có thể giám sát hoạt động của công ty chặt chẽ hon.

Nhuợc điểm của h́nh thức tổ chức công ty đại chúng:

- Sau khi hoàn tất phát hành công ty sẽ chịu áp lực giám sát của xă hội, chịu áp lực phải duy tŕ đuợc giá cổ phiếu của ḿnh trên thị truờng chứng khoán, để thu hút nhà đầu tu;

- Trong hoạt động của ḿnh, công ty sẽ phải bỏ ra nguồn nhân lực về tài chính và con nguời để chuẩn bị các báo cáo tài chính thuờng niên, báo cáo các sự kiện bất thuờng xảy ra đối với công ty, báo cáo khi Uỷ ban Chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán (Trung tâm giao dịch chứng khoán) yêu cầu;

- Khi phát hành, công ty sẽ phải chịu các chi phí đợt phát hành: chi phí thuê hăng kiểm toán độc lập để lập báo cáo kiểm toán hoạt động của công ty, chi phí thuê nguời bảo lănh pháp hành, chi phí chuẩn bị hồ so, giấy tờ để xin phép phát hành, chi phí quảng cáo cho đợt phát hành;

- Co cấu cổ đông thuờng xuyên thay đổi, có thể đe doạ quyền kiểm soát của các cổ đông lớn.

 

Phát hành chứng khoán ra công chúng

Phát hành cổ phiếu ra công chúng là việc công ty cổ phần phát hành toàn bộ hoặc một tỷ lệ lớn vốn cổ phần ra ngoài xă hội để công chúng nắm giữ. Luật chứng khoán nuớc nào cung quy định các tiêu chuẩn phát hành ra công chúng, thủ tục, hồ sơ xin phép phát hành, các quy định về việc sử dụng thông tin trong việc chào bán, phân phối chứng khoán, báo cáo kết quả đợt phát hành.

Điều kiện phát hành thuờng quy định quy mô vốn cổ phần tối thiểu phải có, tỷ lệ vốn cổ phần tối thiểu phát hành ra ngoài công ty, số công chúng nắm giữ phải đạt mức tối thiểu nhất định, lịch sử hoạt động kinh doanh tốt, linh vực hoạt động kinh doanh phù hợp, kế hoạch phát triển khả thi. Hội đồng quản trị có đủ năng lực chuyên môn và đạo đức... Những điều kiện này nhằm đảm bảo cho chứng khoán phát hành ra phải có chất luợng và với số luợng đủ lớn để tạo ra một thị truờng khả dĩ cho chứng khoán đó. Ngoài ra, thông thuờng việc phát hành ra công chúng phải do tổ chức bảo lănh phát hành thực hiện.

Thủ tục xin phép phát hành: các nước thuờng quy định rằng, tổ chức bảo lănh phát hành là người nộp hồ sơ xin phép phát hành cho Uỷ ban chứng khoán Nhà nuớc v́ tổ chức bảo lănh phát hành là nguời giúp tổ chức phát hành lập hồ so và đồng chịu trách nhiệm pháp lư về hồ sơ đó. Sau một thời gian nhất định, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước phải trả lời về việc cho phép phát hành hay không.

Trong hồ so xin phép phát hành th́ bản cáo bạch là tài liệu quan trọng nhất, cung cấp mọi thông tin cơ bản về tổ chức phát hành.

Bản cáo bạch là bản thông cáo phát hành, nó giống như lư lịch tổ chức phát hành, phản ánh toàn bộ t́nh h́nh tài chính, hoạt động kinh doanh, tổ chức bộ máy, và kế hoạch sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành. Bản cáo bạch là tài liệu chủ yếu để nhà đầu tư tham khảo nghiên cứu truớc khi quyết định mua chứng khoán phát hành. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc chỉ xác nhận rằng, bản cáo bạch đă đuợc lập theo đúng thủ tục, được tổ chức kiểm toán xác nhận về các bảng báo cáo tài chính. Tổ chức kiểm toán, tổ chức phát hành và nguời bảo lănh phát hành kư vào bản cáo bạch phải chịu trách nhiệm truớc pháp luật về sự chính xác, trung thực của các thông tin nêu trong bản cáo bạch. Nhà đầu tư phải tự nghiên cứu, tự ra quyết định mua chứng khoán, và tự chịu rủi ro đối với chứng khoán này, nếu chứng khoán tốt th́ sẽ có lăi, nếu chứng khoán kém chất luợng th́ sẽ bị lỗ. Tuy nhiên, trong thời gian đầu, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nhiều nước đang phát triển có bộ phận chuyên trách chịu trách nhiệm kiểm tra t́nh h́nh thực tế của tổ chức phát hành khi xét duyệt hồ sơ phát hành.

Sau khi đuợc Uỷ ban chứng khoán Nhà nuớc cho phép, tổ chức phát hành chỉ đuợc sử dụng thông tin trong bản cáo bạch đă đuợc duyệt để chào bán chứng khoán. Thời hạn chào bán chứng khoán do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nuớc qui định.

Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 

Thị truờng chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai.

Nguyên tắc trung gian: Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị truờng chứng khoán đều đuợc thực hiện thông qua các trung gian, hay c̣n gọi là các nhà môi giới. Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và huởng hoa hồng. Ngoài ra, nhà môi giới c̣n có thể cung cấp các dịch vụ khác nhu cung cấp thông tin và tu vấn cho khách hàng trong việc đầu tư...

Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tu không thể trực tiếp thoả thuận với nhau để mua bán chứng khoán. Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của ḿnh đđặt lệnh. Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh.

Nguyên tắc đấu giá: Giá chứng khoán đuợc xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán. Tất cả các thành viên tham gia thị truờng đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này. Có hai h́nh thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động.

Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá.

Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới đuợc nhập vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối luợng cao nhất.

Nguyên tắc công khai: Tất cả các hoạt động trên thị truờng chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai. Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị truờng. Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thuờng xảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, nguời quản lư, cổ đông đa số. Các thông tin càng đuợc công bố công khai minh bạch, th́ càng thu hút đuợc nhà đầu tu tham gia vào thị truờng chứng khoán.

Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán đuợc h́nh thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết các nuớc trên thế giới hiện nay, mỗi nuớc chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy nhất (tuy nhiên, nguời dân mọi miền đất nuớc đều có thể tiếp cận thị truờng thông qua các pḥng giao dịch của công ty chứng khoán mở tới các điểm dân cu).

Một số nuớc rộng lớn c̣n tồn tại vài Sở giao dịch chứng khoán do lịch sử để lại th́ đều nối mạng với nhau hoặc giao dịch những chứng khoán riêng biệt.

T́m hiểu thuật ngữ chứng khoán 

Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác.

Vốn cổ phần của công ty cổ phần được chia nhỏ thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu cổ phần của người nắm giữ cổ phiếu trong công ty. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông của công ty cổ phần. Ngày nay trên Sở giao dịch chứng khoán, cổ phiếu c̣n có h́nh thức ghi trong máy tính điện tử, gọi là h́nh thức phi vật chất, rất thuận tiện cho việc giao dịch cổ phiếu một cách nhanh, chính xác, an toàn, tránh được việc nhàm lẫn trong mua bán và làm giả cổ phiếu.

Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đăi:
Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được quyền biểu quyết đổi với các quyết định lớn của công ty tại Đại hội Cổ đông của công ty cổ phần và được hưởng cổ tức (cổ tức này không cố định, có thể có và có thể không có).
Người sở hữu cổ phiếu ưu đăi được hưởng cổ tức cố định hàng năm mặc dù công ty có lăi hay không có lăi và có thể được hưởng một số quyền biểu quyết nhưng rất hạn chế. Như vậy, cổ phiếu ưu đăi gần giống với trái phiếu.

Cổ tức là khoản tiền hàng năm công ty cổ phần phân phối cho cổ đông như là một khoản lăi. Việc chi trả cổ tức do Hội đồng Quản trị quyết định. Nếu trong năm, công ty có lợi nhuận, th́ cổ tức được trích ra từ khoản lợi nhuận đó. Trong một số trường hợp công ty không có lợi nhuận trong năm, nhưng công ty vẫn chi trả cổ tức từ khoản vay ngân hàng.

Trái phiếu là chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu. Trái phiếu bao gồm trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ. Trái phiếu có thể có bảo đảm hoặc không có bảo đảm.

Trái phiếu có bảo đảm có thể được bảo đảm bằng phương thức sau: Bộ Tài chính hoặc tổ chức tài chính bảo lănh thanh toán; Bảo đảm bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc một tổ chức thứ ba.

Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có kèm theo quyền chuyển đổi quy định rằng đến một thời điểm nào đó (1,2,5 năm sau khi phát hành) th́ người sở hữu trái phiếu có quyền chuyển đổi trái phiếu để lấy cổ phiếu của công ty phát hành trái phiếu.

Ví dụ: tháng 10 năm 1998, công ty A phát hành trái phiếu C kèm theo quyền chuyển đổi 1 trái phiếu C thành 1 cổ phiếu của công ty A vào tháng 10 năm 2002. Nếu vào tháng 10 năm 2002, giá 1 cổ phiếu là 102.000 đồng và giá trái phiếu C là 90.000 đồng, th́ người nắm giữ trái phiếu sẽ chuyển đổi trái phiếu đang nắm giữ sang cổ phiếu. Ưu điểm của việc phát hành trái phiếu chuyển đổi là nó hấp dẫn nhà đầu tư hơn so với trái phiếu thông thường.

Trái phiếu Chính phủ do Chính phủ phát hành. Trái phiếu Chính phủ của các nước thường do Ngân hàng Trung ương tổ chức đấu thầu bán buôn, các tổ chức tài chính đứng ra thầu mua và là người tạo dựng thị trường trái phiếu.

Trái phiếu công tŕnh là một loại trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu chính quyền địa phương được Chính phủ cho phép, được phát hành để phục vụ cho việc xây dựng một công tŕnh, theo quy định của Chính phủ hoặc địa phương.

 

Khái quát về thị trường chứng khoán 

I.Thị trường chứng khoán là ǵ?

Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.H́nh thái điển h́nh của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá tŕnh ghép lệnh để h́nh thành nên giá giao dịch.TTCK phi tập trung c̣n gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được h́nh thành theo phương thức thoả thuận.

II.Chức năng của TTCK

1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xă hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xă hội.

2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của ḿnh.

3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả th́ tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.

4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.

5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. V́ thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lư lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.

III. Cơ cấu TTCK: xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại:

1. Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.

2. Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đă được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đă phát hành.

Thị trường thứ cấp là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán đă được phát hành. Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệch giá.

Như vậy, thị trường thứ cấp không cung cấp dịch vốn cho các doanh nghiệp, th́ có lợi ǵ? Không có thị trường thứ cấp, th́ không có thị trường sơ cấp: nếu chứng khoán phát hành ra mà không lưu chuyển được trên thị trường thứ cấp, th́ nhà đầu tư cũng không quan tâm đến việc mua, nắm giữ chứng khoán phát hành (nhất là cổ phiếu, một loại chứng khoán vô thời hạn). Cổ phiếu của một tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán khi được mua bán nhiều là phản ánh ḷng tin của người đầu tư vào tổ chức đó; do đó khi tổ chức niêm yết muốn tăng vốn, họ có thể tiếp tục phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu đợt mới. V́ vậy, thông thường, khi thị trường đang lên (chỉ số giá cổ phiếu đang ở xu hướng tăng), th́ các công ty dễ dàng phát hành với khối lượng lớn. Khi thị trường đang xuống, th́ các công ty rất khó phát hành chứng khoán. Ngược lại, nếu tổ chức phát hành các cổ phiếu có chất lượng cao ở thị trường sơ cấp th́ việc mua bán trên thị trường thứ cấp mới sôi động, nếu phát hành cổ phiếu không có chất lượng th́ cổ phiếu đó không giao dịch được trên thị trường thứ cấp.

Đối tượng tham gia thị trường chứng khoán gồm: Sở giao dịch chứng khoán (hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán), là người tổ chức thị trường; công ty chứng khoán, là người kinh doanh chứng khoán, trực tiếp mua bán chứng khoán trên Sở Giao dịch chứng khoán (hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán); nhà đầu tư, là những người mua bán chứng khoán thông qua các công ty môi giới chứng khoán; tổ chức niêm yết; và cơ quan quản lư-giám sát thị trường

Khái niệm thị trường tài chính

 

Thị trường tài chính là nơi nguồn tài chính được chuyển từ nơi dư thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Căn cứ vào bản chất, chức năng cũng như phương thức hoạt động, thị trường tài chính có thể phân chia thành ba loại chủ yếu, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị trường vốn (Đây là cách phân loại phổ biến theo kiểu Anh, Mỹ)

 

Thị trường tiền tệ là thị trường trao đổi vốn ngắn hạn như các khoản vay liên ngân hàng hoặc mua bán các chứng khoán ngắn hạn như tín phiếu kho bạc chứng chỉ tiền gửi. Thời gian đáo hạn của các chứng khoán trên thị trường tiền tệ thường dưới một năm. Thị trường mua bán tín phiếu kho bạc thường được tổ chức thành thị trường tập trung, và Ngân hàng Trung ương lấy tín phiếu kho bạc làm công cụ thị trường mở điều hành chính sách tiền tệ. Hầu hết các nước đang phát triển đă áp dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở để bổ sung cho công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp. Thị trường chứng chỉ tiền gửi là thị trường phi tập trung, mua bán chứng chỉ tiền gửi giữa các ngân hàng thương mại.

 

Thị trường hối đoái là nơi giao dịch mua bán các đồng tiền chuyển đổi. Các đồng tiền mạnh, có tính chuyển đổi cao được giao dịch nhiều nhất là Đôla Mỹ, Yên Nhật Bản, Mác Đức. Thị trường hối đoái là thị trường phi tập trung. Ba thị trường hối đoái lớn nhất thế giới là London, Tokyo, New York.Thị trường hối đoái có quy mô giao dịch trong một ngày trên một ngh́n tỷ đôla, ví dụ năm 1998 doanh số trung b́nh hàng ngày của thị trường ngoại hối là 1600 tỷ USD. V́ vậy, thị trường này tác động rất lớn đến t́nh h́nh kinh tế của các nước đang phát triển. Việc đầu cơ trên thị trường hối đoái, ví dụ đầu cơ đồng Baht đă dẫn đến cuộc khủng hoảng thị trường tài chính Thái Lan. Ngày nay, chưa có một cơ quan quốc tế nào đứng ra làm nhiệm vụ giám sát thị trường này. IMF muốn đứng ra làm chức năng Ngân hàng Trung ương toàn cầu, nhưng lực bất ṭng tâm, và không được các nước công nghiệp Tư bản ủng hộ. Các nước công nghiệp tư bản chỉ chú trọng trước hết đến những vấn đề tiền tệ, kinh tế trong nước, nên không phối hợp đúng mức để kiểm soát thị trường.

 

Thị trường chứng khoán (securities market) là nơi trao đổi, mua bán các loại chứng khoán dài hạn, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác.

 

Thị trường vốn (Capital market) là thị trường huy động vốn dài hạn, chủ yếu thông qua phát hành chứng khoán. V́ vậy, thị trường vốn thường đồng nghĩa với thị trường chứng khoán (Securities market). Thị trường chứng khoán được coi là thị trường huy động vốn trực tiếp, không qua trung gian; khác với hoạt động ngân hàng là hoạt động cung cấp vốn gián tiếp, từ người tiết kiệm sang các nhà doanh nghiệp, thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng. Ngân hàng cung cấp vốn chủ yếu là ngắn hạn cho các doanh nghiệp, c̣n vốn dài hạn thông thường phải huy động qua thị trường chứng khoán. Đối với các công ty có triển vọng phát triển nhanh, v́ có sản phẩm mới, có công nghệ cao và có sức cạnh tranh trên thị trường chứng khoán là nơi cung cấp vốn dài hạn hiệu quả nhất, các doanh nghiệp này muốn phát triển phải dựa vào thị trường chứng khoán.

 

 

 

 

 

 

 

© COPYRIGHT 2005 ALL RIGHTS RESERVED BOOKSAIGON.COM